
Khám tiền sản
1. Khám phụ khoa.Tất cả các bệnh viêm nhiễm qua đường sinh dục như: lậu, giang mai, viêm tiết niệu, viêm âm đạo,… đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ sinh sản. Nếu bạn không phát hiện và điều trị sớm những bệnh này thì khả năng vô sinh, sinh con dị tật hay sẩy thai và thai lưu là rất cao. Nên đi khám phụ khoa trước khi mang thai. Có một số lưu ý...
1. Khám phụ khoa.
Tất cả các bệnh viêm nhiễm qua đường sinh dục như: lậu, giang mai, viêm tiết niệu, viêm âm đạo,… đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ sinh sản. Nếu bạn không phát hiện và điều trị sớm những bệnh này thì khả năng vô sinh, sinh con dị tật hay sẩy thai và thai lưu là rất cao.
Nên đi khám phụ khoa trước khi mang thai.
Có một số lưu ý khi đi khám phụ khoa:
- Không nên đi khám phụ khoa những ngày “đèn đỏ”: Thời điểm này tử cung mở rộng, việc thăm khám sẽ khiến vi khuẩn dễ thâm nhập vào tử cung gây tổn thương đến nội mạc tử cung, ống dẫn trứng. Bên cạnh đó, máu kinh cũng ảnh hưởng đến kết quả của một số xét nghiệm và bản thân chị em cũng cảm thấy không tự tin, thoải mái khi các bác sĩ thăm khám.
- Kiêng quan hệ tình dục và không đặt âm đạo trước khi khám 1-2 ngày để tránh các tạp chất, tế bào bất thường và vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập vào âm đạo, có thể ảnh hưởng đến kết quả chẩn đoán và phát hiện bệnh của bác sĩ.
- Không thụt rửa âm đạo hoặc dùng dung dịch vệ sinh trong khoảng 3 ngày trước khi khám bởi nếu việc này sẽ rửa sạch các tế bào gây bệnh, khiến bác sĩ chẩn đoán sai bệnh.
- Chuẩn bị tâm lý: Không nên quá lo lắng và tự tạo áp lực cho mình trước khi khám phụ khoa. Bởi đây thực chất là một cuộc kiểm tra khá nhẹ nhàng và không có gì đáng sợ.
2. Xét nghiệm máu.
Bạn sẽ được lấy máu ở tĩnh mạch để kiểm tra Rubella, Toxoplasma, Cytomegalovirus (CMV). Nếu mắc những bệnh này, khi mang thai có thể dẫn đến sẩy thai hoặc dị tật thai nhi.
Các bệnh lý ở gan như viêm gan siêu vi B, C có khả năng cao lây truyền từ mẹ sang con thông qua đường máu và bào thai. Ngoài ra, bé cũng có thể bị lây nhiễm trong quá trình sinh và quá trình chăm sóc như khi mẹ cho con bú, mớm… Vì vậy, trước khi mang thai, bạn cần xét nghiệm chức năng gan nhằm tầm soát các nguy cơ mắc bệnh về gan đối với thai nhi. Và nên tiến hành trong 3 tháng trước khi quyết định mang thai. Có nhiều cách làm xét nghiệm để đánh giá chức năng gan, nhưng cách phổ biến là kiểm tra tĩnh mạch, xét nghiệm máu. Nếu người mẹ dương tính với các bệnh này, bác sĩ sẽ tư vấn bạn có nên sinh con lúc này hay không và cách phòng bệnh cho bé.
Xét nghiệm máu để đánh giá chức năng gan
Rubella là loại nhiễm trùng do một loài virus có tên rubella gây ra. Tuy nhiên điều nguy hiểm là 30% người bị bệnh không có triệu chứng hoặc có triệu chứng rất nhẹ. Virus Rubella đi qua máu của người mẹ nhiễm vào thai nhi, gây nhiễm trùng bào thai, có thể gây hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ. Đặc biệt nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu, trẻ có nguy cơ cao bị mù lòa, điếc, bệnh tim mạch, hở hẹp van tim, hẹp động mạch phổi, chậm phát triển trí tuệ… và khả năng sảy thai cao. Phương pháp phổ biến nhằm phát hiện virus gây bệnh rubella là xét nghiệm tĩnh mạch máu. Phương pháp này được áp dụng cho tất cả ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Vậy nên, cần làm xét nghiệm này ít nhất 3 tháng trước khi dự định mang thai. Mục đích là để kiểm tra xem bạn có nguy cơ mắc bệnh hay không và nếu cần thiết thì bạn nên tiêm phòng ngừa rubella trước khi mang thai theo chỉ định của bác sĩ.
Bên cạnh đó, việc xét nghiệm công thức máu còn nhằm để xác định tình trạng thiếu máu và để xem có cần bổ sung thêm sắt hay không, bởi việc mang thai sẽ làm bệnh thiếu máu do thiếu sắt trở nên tồi tệ hơn.
Xét nghiệm máu cũng để xác định nhóm máu để khi cần thiết thì truyền máu và xác định yếu tố Rh để phòng bất đồng nhóm máu mẹ và con. Xét nghiệm sẽ cho biết bạn âm tính hay dương tính với Rh. Nếu bạn âm tính với Rh (Rh-), còn chồng dương tính với Rh (Rh+) thì bé có thể mang Rh(+). Khi đó, cơ thể mẹ sẽ sản xuất những chất kháng thể làm thai nhi bị đào thải hoặc trẻ sẽ tử vong ngay khi sinh.
Bên cạnh đó, bạn cũng cần xét nghiệm hóa sinh máu, xét nghiệm đường huyết trong máu xem bạn có bị mắc bệnh đái tháo đường hay trục trặc về chức năng thận hay không.
3. Xét nghiệm nước tiểu.
Đây là biện pháp để phát hiện nhiễm trùng đường tiểu (UIT), đặc biệt là khi nó không xuất hiện triệu chứng. Thông qua mẫu nước tiểu, bác sĩ sẽ kết luận thai phụ có mắc UIT hay không, để chỉ định việc dùng kháng sinh.
Sản phụ bị UIT có nguy cơ tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén hoặc mắc chứng tiểu đường. Xét nghiệm nước tiểu còn giúp chẩn đoán sớm bệnh thận. Loại xét nghiệm này cần thiết đối với phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ và nên thực hiện trong 3 tháng trước khi mang thai.
Sản phụ bị UIT có nguy cơ tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén.
Xét nghiệm nước tiểu còn giúp phát hiện viêm đường tiết niệu, các bệnh tình dục, tìm các bất thường khác trong nước tiểu như máu, đạm, đường, vi khuẩn… để còn có phương pháp điều trị dứt điểm trước khi có thai.
4. Khám răng miệng.
Từ những thay đổi hormone hay còn gọi là nội tiết tố thai kỳ, các thai phụ trở nên nhạy cảm hơn với các vấn đề về răng miệng, nhất là nướu. Hiện tượng thèm ngọt và triệu chứng nôn mửa thường xuyên là một trong những nguyên nhân làm phát triển những vấn đề về răng miệng, khiến tình trạng răng miệng xấu đi. Đó là lý do vì sao có đến 70% phụ nữ mang thai mắc phải các bệnh về nướu và răng.
Mắc bệnh về nướu làm tăng nguy cơ sinh non.
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa các bệnh về nướu và nguy cơ sinh non ở thai phụ. Qua đó, các nhà khoa học đã cho thấy những bà mẹ mắc các bệnh về nướu có nguy cơ sinh non cao gấp 4 -7 lần so với những bà mẹ khác. Điều này được lý giải là do các vi khuẩn trong khoang miệng vào máu gây nên nhiễm trùng. Từ đây đã làm các hormone prostaglandin (PGE2) cùng chất lỏng sinh học trong người mẹ mang thai tăng cao. Chính lượng hormone này đã tạo nên những kích thích sinh ra các co thắt và dẫn đến sinh non. Tuy nhiên, nguy cơ này có thể giảm thiểu đến 34% nếu mẹ được điều trị theo các cách đơn giản nhất, chẳng hạn lấy cao răng hoặc xử lý mặt chân răng. Tất nhiên, chúng phải được thực hiện bởi các nha sĩ chuyên nghiệp. Tốt nhất, bạn vẫn nên được khám và điều trị các bệnh về răng và nướu trước khi có ý định mang thai nhằm hạn chế những vấn đề này.